THỜI GIAN

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    1480750356haicau_binhthuan.flv IMG_1363.JPG IMG_1362.JPG IMG_0262.JPG C32CLBthuphapchuVietkyniemhainamthanhlap22048411.jpg 1104.jpg 114.jpg 1326340781biemhoalytrucdunghoiquancuoi31.jpg 1326340781biemhoalytrucdunghoiquancuoi41.jpg P1030305.jpg IMG_10222.jpg IMG_1043.jpg DSC04744.jpg DSC04740.jpg DSC047301.jpg DSC04743.jpg Xon_xao_ve_than_dong_4_tuoi_co_kha_nang_tinh_toan_phi_thuong__Xa_hoi__Dan_tri.flv Vo_yeu_va_so__Cap_Anh_Tai__YouTube.flv

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    LỊCH PHONG THỦY

    LỊCH ÂM DƯƠNG

    TUYẾT RƠI

    BỘ SƯU TẬP HOA LAN

    DANH LAM THẮNG CẢNH

    TỪ ĐIỂN TRỰC TUYẾN


    Tra theo từ điển:



    LỊCH TRUYỀN HÌNH

    THÔNG TIN TỔNG HỢP

    DỰ BÁO THỜI TIẾT - ĐÀ NẴNG

    Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang Thành phố Nha Trang: Click for Nha Trang, Viet Nam Forecast

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Biển đảo

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Thanh Hồng
    Người gửi: Nguyễn Thưởng (trang riêng)
    Ngày gửi: 08h:58' 15-02-2012
    Dung lượng: 5.8 MB
    Số lượt tải: 734
    Số lượt thích: 1 người (Lê Thị Ngọc Mai)
    TUYÊN TRUYỀN
    VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
    4. Đường lưỡi bò của TQ
    5. Nguồn gốc LS, chủ quyền của VN
    3. Sơ đồ tình hình Biển Đông
    2. Tình hình biển đảo của VN
    1. Công ước QT về Luật biển 1982
    9. Trách nhiệm của Thanh niên
    đối với biển đảo
    8. Định hướng tuyên truyền
    về biển đảo
    7. Động thái của Việt Nam
    về biển đảo
    6. Các thỏa thuận của VN
    về biển đảo
    I- CÁC VÙNG BIỂN CỦA MỘT QUỐC GIA VEN BIỂN
    1/ Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc (thường được gọi tắt là Công ước Luật Biển năm 1982) được thông qua tại thành phố Môn-tê-gô-bay của Gia-mai-ca vào ngày 10-12-1982. Công ước đã có hiệu lực và hiện nay có 161 thành viên tham gia, trong đó có các nước ven Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po và Bru-nây.
    Đại diện các quốc gia tham gia ký Công ước Luật Biển năm 1982. Ảnh: un.org 
    Công ước quy định các quốc gia ven biển có các vùng biển là nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Chiều rộng của các vùng biển này được tính từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải của quốc gia ven biển. Công ước Luật Biển năm 1982 quy định rất rõ quy chế pháp lý của từng vùng biển.
    Nội thủy:
    Là toàn bộ vùng nước tiếp giáp với bờ biển và nằm phía trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải. Tại nội thủy, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền của mình.
    Lãnh hải :
    Lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài đường cơ sở. Theo luật biển quốc tế hiện đại, chiều rộng tối đa của lãnh hải là 12 hải lý.
    Một số chú ý về lãnh hải :
    Các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với lãnh hải của mình. Chủ quyền đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải là tuyệt đối. Chủ quyền đối với vùng trời phía trên lãnh hải cũng là tuyệt đối. Tuy nhiên, chủ quyền đối với vùng nước lãnh hải không được tuyệt đối như trong nội thủy bởi vì ở lãnh hải của quốc gia ven biển, tàu thuyền của các quốc gia khác được quyền qua lại không gây hại.
    Quốc gia ven biển có quyền ban hành các quy định để kiểm soát và giám sát tàu thuyền nước ngoài thực hiện việc qua lại lãnh hải của mình trong một số vấn đề (an toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển; bảo vệ các thiết bị, công trình, hệ thống đảm bảo hàng hải; bảo vệ tuyến dây cáp và ống dẫn ở biển; bảo tồn tài nguyên sinh vật biển; ngăn ngừa vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển liên quan đến đánh bắt hải sản; bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; và ngăn ngừa các vi phạm về hải quan, thuế khóa, nhập cư, y tế) và quy định hành lang để tàu thuyền đi qua .
    Vùng tiếp giáp lãnh hải:
    Là vùng biển nằm ngoài và sát với lãnh hải. Chiều rộng của vùng tiếp giáp lãnh hải cũng không quá 12 hải lý.
    Quốc gia ven biển có quyền thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm ngăn ngừa việc vi phạm các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, nhập cư hay y tế trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình.
    Quốc gia ven biển cũng có quyền thi hành sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải để trừng trị việc vi phạm các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình.
    Vùng đặc quyền kinh tế:

    * Đó là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở
    *Trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật ở đó.
    * Quốc gia ven biển cũng có quyền chủ quyền đối với các hoạt động khác như sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió.
    Thềm lục địa quốc gia ven biển (t.t):
    * Quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình; nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ và giữ gìn môi trường biển.
    * Công ước Luật Biển năm 1982 quy định các quốc gia khác, bất kể là quốc gia có biển hay không có biển, được hưởng một số quyền nhất định ở trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển như quyền tự do hàng hải, quyền tự do hàng không.
    Thềm lục địa quốc gia ven biển:
    Thềm lục địa của quốc gia ven biển là phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển. Thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng tối thiểu 200 hải lý
    Công ước Luật Biển năm 1982 quy định trong thềm lục địa của mình, các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa của mình.
    QUYỀN TẠI CÁC VÙNG BIỂN CỦA
    MỘT QUỐC GIA VEN BIỂN

    DIỆN TÍCH CÁC VÙNG BIỂN VIỆT NAM
    2/ Hình ảnh của Hải quân Việt Nam:
    Hải quân Việt Nam duyệt binh trước cột mốc chủ quyền Trường Sa
    Tàu hải quân Việt Nam tuần tra trên biển bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Ảnh: TRỌNG THIẾT


    Tàu ngầm lớp kilo của Nga. Ảnh: RIA Novosti.
    Tập luyện ở Vùng 4 Hải quân.
    Tàu chiến của Hải quân Việt Nam trong cuộc diễn tập bắn đạn thật trên biển vào thứ 2 ngày 13-06-2011
    Tàu Hải quân Việt Nam bắn đạn thật
     
    Tập luyện bảo vệ chủ quyền.
    Tàu tên lửa tập luyện bắn đạn thật trên biển.
    Địa điểm bắn đạn thật trên bản đồ:
    Bộ đội tên lửa Hải quân sẵn sàng chiến đấu.

    Nhiệm vụ quan trọng của chiến sĩ Hải quân là huấn luyện làm chủ trang bị hiện đại
    Chiến sĩ đảo Trường Sa chắc tay súng bảo vệ biển đảo thiêng liêng của tổ quốc
    3- SƠ ĐỒ TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG
    4/ ĐƯỜNG YÊU SÁCH LƯỠI BÒ CỦA TRUNG QUỐC:
    Phản ứng của Việt Nam về đường lưỡi bò của Trung Quốc:
    Việc làm này "vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam và của các nước ven biển Đông, hoàn toàn trái với các quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)".
    Yêu sách 9 đoạn (còn gọi là đường lưỡi bò) mà Trung Quốc đơn phương đưa ra coi hầu như toàn bộ Biển Đông là vùng nước của Trung Quốc. Điều này bị nhiều nước, trong đó có Việt Nam, kịch liệt phản đối.
    6- CÁC THOẢ THUẬN VỀ BIÊN GIỚI LÃNH THỔ CỦA TA VỚI CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG
    Với Trung Quốc
    -Ngày 07/11/1991: Hiệp định tạm thời v/v giải quyết công việc trên vùng biên giới
    -Ngày 19/10/1993: Thoả thuận về Những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ
    -Ngày 30/12/1999: Hiệp ước hoạch định biên giới trên đất liền
    -Ngày 25/12/2000: Hiệp định phân định biển trong Vịnh Bắc Bộ
    -Ngày 4-11-2002: Tuyên bố về cách ứng xử trên biển Đông giữa ASEAN với TQ ký tại Campuchia

    Với Campuchia

    - Ngày 18/2/1979: Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác
    -Ngày 07/7/1982: Hiệp định Vùng nước lịch sử
    -Ngày 20/7/1983: Hiệp định về quy chế biên giới
    -Ngày 20/7/1983: Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết các vấn đề biên giới
    -Ngày 27/12/1985: Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia
    Với Lào
    -Ngày 18/7/1977: Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia
    -Ngày 24/1/1986: Hiệp ước bổ sung Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia
    -Ngày 24/1/1986: Nghị định thư v/v phân giới trên thực địa và cắm mốc toàn bộ đường biên giới
    -Ngày 01/3/1990: Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia
    -Ngày 31/8/1997: Nghị định thư sửa đổi, bổ sung Hiệp định về Quy chế biên giới
    Với các nước khu vực Biển Đông khác

    -Với Thái Lan: Hiệp định phân định biên giới biển (ký ngày 09/8/1997)
    -Với Indonesia: Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa (ký ngày 26/6/2003, có hiệu lực từ 29/5/2007)
    -Với Malaysia: Thoả thuận hợp tác khai thác dầu khí trong khu vực chồng lấn thềm lục địa Việt – Malaysia (ký ngày 05/6/1992)
    7- Những động thái của Việt Nam về tình hình biển đảo trong thời gian qua:
    Những động thái trên biển gần đây của Trung Quốc đã khiến nhiều nước lo ngại - Ảnh: Chinese-Defense
    Tàu hải giám Trung Quốc mang số hiệu 84 vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ảnh: TTXVN.
    Một tàu ngư chính của Trung Quốc. Ảnh China daily.
    Thủ tướng Chính phủ phát biểu : “Nhiệm vụ đầu tiên là tiếp tục khẳng định mạnh mẽ và thể hiện ý chí quyết tâm cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển, hải đảo của tổ quốc”.
    Tuần lễ biển và hải đảo ngày 8/6/2011

    Ảnh: Mỹ Giang.
    Thủ tướng phát biểu bế mạc Tuần lễ biển và hải đảo tối 8/6.
    Chính phủ một lần nữa khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc
    Thủ tướng cũng yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình ở biển Đông, tuân thủ cam kết giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và 5 nguyên tắc chung sống hòa bình; tăng cường các nỗ lực, xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an toàn biển, nghiên cứu khoa học chống tội phạm, cùng nghiêm chỉnh thực hiện tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông...
    VẬN ĐỘNG NHIỀU KÊNH KHÁC ĐỂ GÂY ÁP LỰC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO
    Hội thảo quốc tế lần thứ II về Biển Đông ( 11-12/11/2010)
    Hội thảo Quốc gia lần thứ hai về Biển Đông. Ảnh: Phan Lê.
    Các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN chụp ảnh kỷ niệm - Ảnh: AFP

    Hai hội thảo về biển Đông
    Ngày 21.9, gần 80 nhà khoa học đến từ Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Singapore, Nhật Bản, Đài Loan và Việt Nam đã tham dự hội thảo quốc tế "Hợp tác vì hòa bình, an ninh và phát triển khu vực trong bối cảnh mới".
    Hội thảo trên, do Viện Khoa học xã hội Việt Nam, là diễn đàn thảo luận về các biện pháp giải quyết tranh chấp ở khu vực biển Đông một cách hòa bình, tránh xảy ra xung đột trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
    Trước đó, hội thảo "An ninh hàng hải trên biển Đông", do Đại sứ quán Việt Nam, Philippines và Indonesia tại Vương quốc Bỉ đồng tổ chức, diễn ra ngày 19.9 tại Viện Nghiên cứu châu Á của châu Âu (EIAS) ở thủ đô Brussels của Bỉ.

    Tại hội thảo, đại sứ của Philippines và Indonesia lo ngại về an ninh và an toàn hàng hải tại khu vực bắt nguồn từ các tranh chấp lãnh hải, các bên liên quan cần kiềm chế, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực và phải tôn trọng luật pháp quốc tế .

    Về phía Việt Nam, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là kiên trì giải quyết tranh chấp biển Đông bằng biện pháp hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế. Việt Nam luôn tuân thủ Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và lợi ích của tất cả các bên liên quan, tuyệt đối không để xảy ra xung đột.

    Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono cho hay các thành viên hiệp hội ASEAN muốn thúc đẩy tiến trình xây dựng bộ Quy tắc về ứng xử ở Biển Đông.







    Tổng thống Indonesia
    Susilo Bambang Yudhoyono
    và Thủ tướng Việt Nam
    Nguyễn Tấn Dũng tại hội
    nghị thượng đỉnh ASEAN.
    Ảnh: AFP.
    Tổng thống
    Philippines Benigno Aquino
    tích cực tìm hậu
    thuẫn quốc tế
    về vấn đề biển
    Đông - Ảnh: AFP
    Ngoại trưởng Philippines, Alberto del Rosario:

    Philippines muốn LHQ phân xử tranh chấp ở Biển Đông


    Ảnh: Businessweekmindanao
    Phó tư lệnh Hải Quân Phạm Ngọc Minh (trái): "Việt Nam sẽ giải quyết các vấn đề của mình bằng chính sức của mình".
    Ảnh: Nguyễn Hưng.
    "Mục tiêu của chúng ta là giữ được chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, cũng như môi trường hòa bình, ổn định. Chúng ta hợp tác với các nước trên quan điểm độc lập, tự chủ, không liên minh, không liên kết quân sự, không dựa vào bất kỳ nước nào để giải quyết vấn đề của mình“. Thiếu tướng Phạm Ngọc Minh Hội nghị Tư lệnh Hải quân ASEAN lần thứ 5 (ANCM-5), tháng 7 năm 2011 tại Hà Nội.
    Đảng viên và nhân dân Đảng bộ P.5, Q.10, TP.HCM đóng góp cho chương trình “Góp đá xây Trường Sa” ngày 7-7 - Ảnh: THANH ĐẠM
    Các chiến sĩ nhí của chương trình Nhịp bước hành quân - lớp hải quân sơ cấp tham gia quyên góp hưởng ứng chương trình “Góp đá xây Trường Sa” - Ảnh: THANH ĐẠM
    Các đoàn viên TP.HCM truyền cờ Tổ quốc tượng trưng cho việc giữ lửa lòng yêu nước để gửi tặng đến các chiến sĩ hải quân đang ngày đêm canh giữ biển trời Tổ quốc - Ảnh: T.Thắng
    Người dân Việt Nam tuần hành vì Biển Đông.
    Hội thảo Quốc tế lẫn thứ II về Biển Đông:
    1- Thành phần: 66 học giả trong nước và quốc tế:
    Nước chủ nhà Việt Nam : 6 đại biểu.
    9 nước còn lại của khối ASEAN: 27 đại biểu.
    Trung Quốc: 5 đại biểu.
    Đài Bắc-Trung Quốc: 6 đại biểu
    Hoa Kỳ : 5 đại biểu
    Hàn Quốc: 3 đại biểu
    Anh, Đức, Canada, Australia: đều 2 đại biểu.
    Nga, Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ, Bỉ, Thụy Điển: đều 1 học giả.



    2- Những quan điểm đa số tại Hội thảo:

    Giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại, đàm phán. Không dùng vũ lực trong bất cứ hoàn cảnh nào. Công ước về Luật Biển của LHQ năm 1982.

    Biển Đông là một trong những vùng biển trọng yếu, có vị trí chiến lược và nhộn nhịp nhất thế giới. Vì vậy, cần đảm bảo, duy trì tự do đi lại, an toàn trên vùng biển này.

    Biển Đông đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế của các nước ASEAN và Trung Quốc. Do vậy, hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và an ninh con người, trong đó có cả cứu hộ, cứu nạn ở Biển Đông đã trở thành trọng tâm trong chương trình nghị sự của các cuộc gặp chính thức giữa ASEAN và TQ.
    Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được ký kết năm 2002 trên tinh thần đó.

    Tuy nhiên, các nước kỳ vọng có một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) để ràng buộc hơn, chặt chẽ hơn và toàn diện hơn sẽ được đàm phán và ký kết trong tương lai.
    BỘ CHÍNH TRỊ BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT TW 4 ( KHÓA X) VỀ CHIẾN LƯỢC BIỂN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 (Ngày 09-02-2007):
    1- Mục tiêu tổng quát:

    Đến năm 2020 trở thành quốc gia mạnh về biển. Bảo đảm vững chắc chủ̉ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH.

    2- Mục tiêu cụ thể:

    Kinh tế biển đóng góp 53-55% GDP cả nước. Kinh tế trên biển 21-23%.
    Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống nhân dân
    Xây dựng một số thương cảng quốc tế́ có tầm cỡ khu vực
    Phát triển mạnh khai thác, chế́ biến và dịch vụ biển. Xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển (trong đó có khu KTM Chu lai)
    Xây dựng cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp thống nhất về biển
    Mở rộng hợp tác quốc tế́
    3- Những định hướng lớn:
    Định hướng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
    Định hướng chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại
    Định hướng về điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển
    Định hướng phát triển về khoa học-công nghệ biển
    Định hướng về bảo vệ môi trường biển và ven biển, phòng, chống thiên tai
    Định hướng xây dựng kết cấu hạ tầng
    Định hướng chiến lược các vùng biển


    TÌNH HÌNH BIỂN ĐẢO CỦA TỈNH QUẢNG NAM:
    Hội thảo “Phát triển  kinh tế biển, đảo gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ở các tỉnh duyên hải miền Trung” tại Quảng Nam. (26/9/2011)
    Đưa ra các giải pháp, việc cần làm ngay là phát triển mạnh khai thác thủy hải sản với hướng ưu tiên tập trung khai thác vùng biển khơi vừa phát triển kinh tế biển, đảo vừa tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh trên vùng biển. Đồng thời cần hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá, tạo điều kiện cho ngư dân bán biểm dài ngày bằng các chính sách hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ năng lực sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực phát triển kinh tế biển.
    Tại Đại hội XI của Đảng, Đoàn ĐB Đảng bộ tỉnh Quảng Nam có tham luận về “ Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng-an ninh của tỉnh “.
    Thực hiện NQ về Chiến lược biển VN đến năm 2020
    XÂY DỰNG KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM
    B- ĐỊNH HƯỚNG TUYÊN TRUYỀN BIỂN ĐẢO NĂM 2011 VÀ TRONG THỜI GIAN ĐẾN:
    PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG:
    Tiếp tục tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về vị trí, vai trò, tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo Việt Nam nói chung của tỉnh Quảng Nam nói riêng.
    Tuyên truyền, phổ biến kiến thức cơ bản, phổ thông, các văn bản pháp luật về Biển, đảo của Nhà nước ta và luật Biển quốc tế, những văn bản nước ta ký kết với các nước, những cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của nước ta đối với các quần đảo trên biển Đông. Giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển, đảo.
    Tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến, những thành tựu phát triển kinh tế biển…
    Tuyên truyền phổ biến những kiến thức ứng dụng, chuyển giao KH&CN trogn nuôi trồng, đánh bắt, khai thác nguồn lợi thủy sản. Kiến thức về cứu hộ, cứu nạn, về thời tiết, phòng chống thảm hại thiên tai, biến đổi khí hậu. Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển.
    Tuyên truyền các “ tổ đội tàu, thuyền đoàn kết”, dân quân tự vệ; đấu tranh chống các hiện tượng sai trái, tiêu cực trên biển đảo: vi phạm về trật tự, an toàn giao thông, buôn bán hàng cấm, trốn lậu thuế, tàu thuyền nước ngoài vi phạm chủ quyền, quyền tài phán vùng biển của nước ta; đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tác về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
    Tuyên truyền nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân đối với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
    NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
    Xây dựng Kế hoạch tuyên truyền biển, đảo gắn với tuyên truyền thực hiện NQ ĐH XI, ĐH XX, các nhiệm vụ chính trị của các ngành, địa phương.
    Các cơ quan liên quan cần có kế hoạch phối hợp trong công tác tuyên truyền biển, đảo.
    Tăng thời lượng, trang, nâng cao chất lượng các tin, bài, các ấn phẩm văn hóa tuyên truyền về biển, đảo.
    Coi trọng bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên
    Kết hợp tuyên truyền biển, đảo với tuyên truyền đối ngoại
    BTG các địa phương tham mưu cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền biển, đảo, biên giới.
    9/ Trách nhiệm của thanh niên đối với biển đảo :

    Cá nhân tự liên hệ
    74

    Xin trân trọng cảm ơn!

     
    Gửi ý kiến

    TRUYỆN CƯỜI

    Xem truyện cười